Chương 30: Bán Thân Táng Phụ - Tần Cối Thề Ước

Chương 30 :

Bán Thân Táng Phụ – Tần Cối Thề Ước Đêm ấy gió bất rít qua song, trăng mỏng như lưỡi dao.

Hàn Quang Nghị khoác áo choàng đen, dạ tập vào phủ Phùng Kỳ Lệnh;

lính canh vừa thấy tín phù đã lặng lẽ tránh đường.

Trong thư phòng, đèn lồng đặt thấp, bóng giấy run run trên vách.

Hàn Quang Nghị quỳ một gối, dâng án thư cùng hộp gấm:

“Thuộc hạ đã dò xong tuyến bắc lộ, tang chứng nhân chứng đủ cả.

Đây là ngân phiếu Mạnh Thiên Hùng sai người đưa—tên gọi là hương lẽ” Phùng Kỳ Lệnh chỉ tay mời đứng đậy, khẽ đẩy hộp gấm sang bên, giọng đều như nước lạnh:

“Ngươi là võ nhân, ắt muốn bẩm tấu hết lên Hoàng thượng.

” Hàn Quang Nghị chắp tay:

“Vâng.

Việc nên minh bạch trắng đen.

” Phùng Kỳ Lệnh nhìn nghiêng qua làn khói trà, khóe mắt sâu lại:

“Nhưng việc Dương Chỉ, nội xưởng và cẩm y vệ cũng sẽ bỏ đoạn ấy.

Lời hắn nói nhiều, mà để lại họa lớn.

Không nên đưa vào tấu.

” Hàn Quang Nghị cúi đầu, yết hầu khẽ động.

Y biết thế cục sẽ thành vậy, song nghĩ đến Dương Chỉ ngã xuống giữa tro tàn Sóc Phương, câu sau chót “trung quân ái quốc” như đỉnh đóng vào tâm, ngực bỗng nghẹn.

Phùng Kỳ Lệnh đặt chén, hỏi gọn:

“Lần ngươi đi yết kiến Mạnh Thiên Hùng —đã cho ai hay chưa?

Hàn Quang Nghị đáp ngay:

“Chưa.

Thuộc hạ đi đêm, không lưu danh, không để đấu.

” Phùng Kỳ Lệnh gật khẽ, mắt không ròi ngọn đèn:

“Tốt.

Việc hôm nay tạm dừng ở đây.

Hộp gấm ta lấy năm vạn còn lại ngươi giữ đi.

Ngươi về nghỉ, chờ chỉ.

Sau tiết đông, còn nhiều đường phải đi.

” Hàn Quang Nghị ôm quyền cáo lui.

Ra đến sân, gió bấc quật áo, y đứng nép dưới hiên một thoáng.

Trong tai dường như vẫn còn tiếng người đ:

ã c-hết vọng lại — “trung quân ái quốc” — lạnh mà bén, khắc sâu hơn cả lưỡi trăng nơi góc trời.

Sau nhiều ngày đường, chuông kinh môn điểm ba hồi, hai ty áp đoàn xe vào thành, tuyết còr bám mép bánh.

Tại Doanh trực Kinh sư, ký bạ hồi trình, điểm đủ đầu người, niêm ấn trên rương vẫn nguyên.

Hồ sơ hành trình, tấu hồi trình cùng sổ lược nhiệm vụ được dâng lên theo lệ;

tang vật, công khoản và phạm nhân bàn giao cho nha, bộ hữu quan, đóng khếnhận rồi niêm lại.

Xong xuôi, đội áp giải giải tán.

Tạ Tường Hòa dẫn thuộc hạ hồi Nội xưởng điểm diện, lưu ấn khóa kho;

Hạ Chấn Nham đưa Cẩm y vệ trở về bản doanh làm tường trình nội bộ.

Gió bấc lùa qua lầu gác, mực son trên dấu triện còn chưa kịp khô.

Nội xưởng, trầm hương phảng phất, màn sa không động.

Tạ Tường Hòa quỳ thẳng trước thềm:

“Hài nhi tham kiến nghĩa phụ.

” Tạ Thọ Xương khẽ nhấc tay cho đứng dậy.

Tay trái nâng chén trà, thổi nhẹ, nhấp một ngụm;

vị đắng tan đầu lưỡi, Ông mới hỏi, giọng chậm rãi:

“Bắc lộ chuyến này, con thấy những gì—nói rõ.

” Tạ Tường Hòa kể từ Hắc Nham Khẩu phát biến, đến Sóc Phương đổ sát thiêu hủy;

mối dây b-uôn Lậu rối như tơ, tên Dương Chi lẩn khuất trong đó.

Kể xong, y chắp tay thưa thêm:

“Những lời Dương Chi thổ lộ, xin bỏ cả;

chỉ tâu việc buôn bán phi pháp của hắn cùng Lư Thành.

” Tạ Thọ Xương đặt chén xuống khay, tiếng sứ khẽ ngân, mắt hơi khép:

“Vậy cũng ổn.

” Đoạn ông đẩy chén trà ra mép án như gạt dứt một mối tạp niệm.

Cùng thì giờ ấy, tại bản doanh Cẩm y vệ.

Trình Uyên ngồi nghiêng bên kỷ, tay phe phẩy chiế quạt giấy, mắt nhìn qua song cửa như không, cất lời:

“Hạ Chấn Nham.

“Có hạ quan.

“Bắc lộ thế nào?

Hạ Chấn Nham bước lên một bộ, dâng sổ lược, khẩu thuật y hệt tuyến bên Nội xưởng:

Hắc Nham Khẩu, Sóc Phương, đầu mối quy về Dương Chi.

Trình Uyên nghe hết, bỗng “tách” một tiếng gấp quạt, đứng dậy bước ra thềm, ngửa mặt nhìn trời xám:

“Trình bẩm Hoàng thượng, lời của Dương Chi—giữ hay bỏ?

Hạ Chấn Nham đáp ngay:

“Bỏ toàn bộ khẩu cung lạc hướng;

chỉ lưu chứng cứ buôn bán của Dương Chỉ và Lư Thành.

“Được.

” Trình Uyên gõ sống quạt vào lòng bàn tay hai cái, coi như định luận.

Sau đó, song phương cùng dâng hộp gấm — lễ của Đỗ Kỳ.

Nắp mở, không thấy thoi bạc, chỉ xếp bằng ngân phiếu, mép giấy viền son còn mới.

ỞNội xưởng, Tạ Thọ Xương rút ra bốn vạn lượng làm công dụng trên dưới, phần dư truyền lệnh chia cho thuộc hạ, lại gửi đến gia quyến huynh đệ đã khuất.

Tại bản doanh Cẩm y, Trìn!

Uyên cũng lấy chừng ấy, còn lại giao Thừa lại lập sách, phát xuống các ban.

Tạ Tường Hòa lĩnh ý lui, gót giày chạm gạch xanh không một tiếng thừa.

Trong sảnh, Tạ Thọ Xương đưa tay chỉnh lại khay trà trống, mùi trầm vẫn lững lò.

Bên kia, Trình Uyên thu quạt vào tay áo, đứng nơi bậc thềm nhìn mảng trời chì, thở nhẹ một hơi, rồi quay vào, phất tay:

“Đóng cửa, chờ chỉ.

” Đêm ấy, đèn trong tẩm điện đượm vàng nhạt.

Thánh chỉ truyền trước cho Cẩm y vệ và Nội xưởng;

tấu lược, sổ chứng, khẩu thuật đều dâng đủ.

Hoàng thượng nghe xong chỉ gật đầu rồi cho lui.

Canh khuya hơn, mới triệu Phùng Kỳ Lệnh nhập điện.

Lời bẩm của ba ngả hợp nhau như một khuôn.

Khi thái giám, cung nữ lui hết, trong điện chỉ còn tiếng lò than tí tách.

Mạc Cảnh Nguyên nhấp một ngụm trà, ngả người ra ỷ, khẽ lẩm bẩm:

“Xem ra.

chẳng thể tin trọn ai.

” Y hiểu, ba bên ắt không đưa điều mình mong thấy.

Bới sâu thêm, e long mạch động, hại quốc.

Nghĩ thế, Mạc Cảnh Nguyên đứng dậy, tay chắp sau lưng đi lại mấy vòng, rồi mở cửa sổ.

Gió bấc lùa vào, rèm thêu khẽ lay;

hít một hơi lạnh, ngực bớt nghẹn:

“Dưới chân Thiên tử.

há không kẻ dám tác oai tác oái ư?

Y khép cửa, trở vào án thư.

Chồng tấu chương còn dang.

Hoàng thượng cầm bút son, nét mực trầm ổn trở lại:

“Việc này để đó.

Lo phê tấu chương thôi.

” Ngoài xa, trống canh điểm một tiếng khô;

trong tẩm điện chỉ còn tiếng bút lướt giấy, triện ngự rơi dấu đỏ, lạnh mà vững.

Sáng hôm sau, triều chuông điểm canh, Hoàng thượng thăng điện triệu kiến bá quan, nghị xét án buôn Lậu binh cụ cùng muối-sắt ở Lương Châu phương Bắc.

Bách quan đâng lời, ý kiến quy nhất;

Mạc Cảnh Nguyên đặt bút phê quyết, truyền đọc trước điện:

“Án Lương Châu—Mạnh Thiên Hùng:

tuy có công trấn ải, song để thuộc hạ thất đức, khoan dung lậu tuyến.

Phạt đình bổng lộc nửa năm;

tịch thu danh hiệu “Trấn Bắc tướng quân vẫn lưu nhiệm để giữ biên;

đợi sang xuân nhập kinh, dự triều hội, tấu trình công vụ.

“Đỗ Kỳ:

dù bị thương khi vây bắt, nhưng để Sóc Phương chịu đổ sát, trách bất năng phòng.

Phạtđình bổng một năm;

giáng tước hai cấp;

vẫn lưu chức Tri châu Tham Loan, lập công chuộc quá;

sang xuân nhập đế đô, đích thân bẩm trình.

” Thánh chỉ vừa phát, Trung sứ lĩnh ấn, điều ky trạm xuất thành.

Hai đội khoái mã cầm chiếu đi đêm:

một ngả dương cờ về doanh trại Mạnh Thiên Hùng nơi bắc lộ;

một ngả thốc gió thẳng đến thành Tham Loan.

Dưới trời giá, cờ vàng chẽ gió, ấn son phủ triện đỏ tươi, lời chỉ ban như đinh đóng cột, truyền xuống bốn phương.

Huyện Sóc Phương,những ngày sau, Cổ Xuyên dần nhập guồng huyện sự.

Ban ngày y qua kho sổ ký tên;

đến giờ Hợi lại lĩnh việc, đeo thẻ sai dịch cùng lộ dẫn, theo tổ tuần kiểm lượn chợ Đông, men bến nước, vòng một lượt tường thành.

Mùa đông năm ấy khắc nghiệt, gió bấc cắt da;

mỗi đêm nha môn đều có n-gười c hết rét đưa tới.

` cùng bọn dịch phu gom chiếu, chôn vrùi qua loa nơi bãi cát ngoài đồng môn —giúp được phần nào, song lực bất tòng tâm, chẳng thể quản xiết.

Khi rảnh canh, Cổ Xuyên ghé quán rượu đầu chợ:

một đĩa đậu phộng muối, một bầu rượu lótdạ, ngồi nghe chuyện người chạy nạn.

Lại có khi y lân la mấy ổ bạc nhỏ của đám thanh niên trong huyện;

không ồn ào, không phô trương, chỉ dựa mắt tỉnh tay nhanh, đọc tật ngón mà vét sạch túi bọn chúng.

Bởi thế bạc trong bọc y lúc nào cũng rủng rinh.

Trương Tín và Hà thư lại đều biết y hay “đ:

ánh brạc nhưng không trách phạt quá lời.

Cổ Xuyên vốn làm việc tháo vát, nhiểu lần hiến kế:

sổ phát chẩn chia cột rõ ràng, phướn chiêu mộ dán theo tuyến sáng đèn, giá than ghi theo canh để khó đầu cơ;

người tạm trú thì đóng bảng trước cửa, tiện tuần kiểm rà soát.

Nhờ thế, Hà thư lại nhẹ tay hơn với đống sổ sách, còn Trương Tín cũng.

nắm dân tình trong huyện rõ rệt:

ngõ nào có kẻ rình trộm, bến nào bán than pha tro, nhà nào đêm đêm thắp đèn khuya.

Gió bấc rút da, tuyết mỏng.

rắc như tro.

Một thư sinh nghèo cõng phụ thân vào huyện, vai hằn dây gai tím bầm;

y đi chầm chậm, mỗi bước tựa giảm lưỡi dao.

Tay tê dại, môi nứt rịn huyết, hơi thở phả trắng như khói, mỗi lượt hít vào là một đường xé.

Trên lưng, phụ thân run rẩy ghé môi sát tai con, nói từng chữ đứt quãng, thểu thào như tơ sắp đoạn, giọng yếu lẫn tiếng ho khan đặc:

“Hài.

nhi.

ráng.

giữ.

sức.

khỏe.

” Thư sinh nghe mà tâm như dao cắt, lệ tràn má, song cố nén, chỉ khẽ thưa:

“Phụ thân, hài nhi biết rồi.

” Phụ thân lại dặn, mỗi lời như dùng đến hơi cuối, giọng run rẩy, đứt quãng như lá thu rơi gió “.

chó.

ham.

choi.

” Thư sinh cắn môi đến bật huyết, tâm nhói buốt, nhớ thuở phụ thân tự tay nấu cháo loãng, ép con ăn để học;

nay người chỉ còn thân gầy guộc, hơi thở phả bên ta như lời biệt.

“Chăm.

chỉ .

đọc.

sách.

” Phụ thân thì thầm, tay gầy khẽ vuốt mái tóc con, như truyền nốt hơi ấm sau cùng.

Thư sinh chẳng nén nổi nữa, lệ nóng hòa tuyết lạnh trên má, nghẹn giọng:

“Phụ thân, hài nhi sẽ giữ, quyết chẳng phụ lòng người.

“Mai.

sau.

đỗ.

đạt.

công.

danh.

dẫu.

ở.

trên.

trời.

phụ.

thân.

cũng.

mãn.

nguyện.

” Nói đến đó, ngực người dội cơn ho khô, tiếng ho như xé dạ;

thân run bần bật trên lưng con, bàn tay gầy xoa khẽ đỉnh đầu — động tác quen từ thuở ấu —rồi trượt xuống, bấu lấy vai mà không còn lực, chỉ còn những ngón tay lạnh ngắt.

Thư sinh cảm cái ấm của phụ thân đang rời rạc, tâm như bị xé nát, lệ trào như suối, bật tiếng “Nghiêm phụ chớ nói gở!

Hài nhi sẽ đỗ, mang công danh về cho người xem!

“ Nhưng phụ thân chỉ mim cười nhạt, thì thào câu cuối:

“Hài.

nhi.

ngoan.

nghe.

lời.

” Cửa hiệu thuốc đầu hẻm đã khép then.

Thư sinh dùng lưng gõ, khấu cầu, giọng lạc vì khóc:

“Đại phu.

xin cứu mệnh người!

” Rèm giấy rung một nhịp rồi im bặt.

Thư sinh cõng đi nữa, dấu chân sâu cạn lẫn trong bùn tuyết, mỗi bước một cơn siết thắt;

lệ rơi không dứt, thấm ướt vai áo, hòa cùng hàn khí.

Dưới mái hiên khác, đăng lung vàng cúi thấp;

y quỳ sụp, lưng vẫn đỡ nguyên phụ thân, nức nở:

“Xin xem mạch.

rạng sáng bạc đến.

” Bên trong chỉ tiếng then gỗ “cách” gió lùa qua khe tít như kim, đâm thẳng vào tâm.

Phụ thân lại ghé môi, tiếng chỉ còn hơi gió, yếu đến nỗi thư sinh phải ghé sát tai mới tỏ:

“Đừng.

trách.

người.

ta.

sợ.

lạnh.

” Thư sinh òa khóc, lệ tuôn như mưa:

“Hài nhi không trách, phụ thân ơi, xin người chớ đi!

“Sống.

hiển.

đừng.

hại.

ai.

” phụ thân thì thầm, lời đứt quãng;

bàn tay run rẩy vuốt má con lần cuối —ấm áp mong manh như lời biệt.

Thư sinh ôm chặt đôi cẳng phụ thân, nức nở:

“Hài nhi sẽ sống hiền, chẳng hại ai;

phụ thân ơi, xin người chớ bỏ hài nhi!

“Phụ.

thân?

—tiếng gọi đầu nghẹn, lệ thấm ướt tuyết dưới chân.

“Phụ thân!

” —lần sau vỡ vụn trong bất;

thư sinh dập đầu xuống tuyết, khóc đến khán, thân run như lá, tâm đau tột cùng như vạn tiễn xuyên tâm.

Thư sinh quy xuống, vẫn giữ lưng làm gối, hai tay ôm chặt đôi chân phụ thân như ôm cả bầu trời sập;

ngực rỗng không, gió đi qua cũng bật thành tiếng nấc.

Lệ tuôn không dứt, ướt cả y sam, hòa tuyết lạnh;

y nghẹn:

“Phụ thân dặn.

hài nhi ráng giữ sức.

lo việc học.

chớ ham chơi.

mai sau đỗ đạt.

hài nhi nghe hết.

Nhưng xin—xin trả lại hài nhi này một chút ấm của phụ thân.

chỉ một chút thôi.

” Chẳng ai đáp.

Chỉ đăng lung chao, đổ vòng sáng run rẩy lên tấm chiếu gai.

Thư sinh run tay buộc lại dây chiếu cho kín, chắp tay bái thiên địa, bái những cửa đã khép, khóc đến khô lệ.

Rồi y cõng lên lần nữa, đi tiếp từng bước nhỏ.

Lưng gầy cong thành chiếc kiểu đưa phụ thân qua đêm bấc;

dưới chiếc kiểu ấy là nghĩa phụ tử cố chống trời sập, trên chiếc kiểu ấy là một nhi tử vừa hóa cô lư— vẫn mang trên vai dấu bàn tay vừa xoa đầu mình, ấm đến tận tâm, mà chẳng khi nào ấm lại.

Sáng sớm hôm đó gió bấc quét chợ huyện, phướn lạnh phần phật.

vị thư sinh quỳ dưới tấm bảng gỗ, áo bông rách vá run theo hơi thở, trán chạm lớp tuyết bẩn.

Trên xe tay cũ kỹ, tthi thể quấn chiếu gai sờn nằm bất động —nhờ hàn phong ghìm lại đã bốn, năm ngày.

Bảng viết rõ:

“Bán thân hơn hai mươi năm — sáu mươi lạng — chôn cha.

” Đám người vây một vòng, rồi nhân tình tỏa ra đủ mùi.

Có kẻ nghếch cằm, phì một bãi nhổ xuống mép bát sành mẻ:

“Thư sinh gầy như que củi, mua về làm được gì?

” Một gã phu thô vai quát khàn, tay giơ cán sọt như muốn phang:

“Làm giá cái gì!

Hạ xuống hai lạng, ta còn nghĩ.

Không thì biến!

” Hai tên buôn ngựa khoanh tay cười khật khật, lưỡi độc như sương:

“Ngựa tốt mới hai chục lạng, thứ “mặt giấy' này sáu mươi ư?

Rước về rủi c-hết yểu, xui cả nhà.

” Một bà hàng đầu kéo con nép áo, vẫn không quên mím môi chì chiết:

“Bán thân mấy chục năm, nghe mà chướng tai.

” Bọn trẻ con đầu ngõ lấp ló, đứa nhặt sỏi ném lạch tạch vào bánh xe, thấy thư sinh ngẩng lên liền rú một tiếng, tản chân bỏ chạy, vừa chạy vừa ngoái lại cười ré.

Ở rìa đám đông, gã trai sòng bạc còn gõ lách tách quân bài, ném thêm một câu trù:

“Các ngươi đoán xem ba tháng nữa hắn còn sống không!

” xung quanh lại vang lên tiếng CƯỜÒ Giữa những tiếng phi nhổ, dọa đánh, lời độc mồm, thỉnh thoảng.

vẫn có người lục túi móc ra vài đồng xu mốc thả xuống bát— tiếng lanh canh mỏng như tơ:

một lão phu than đen đặt mộ xu, nói khẽ “Người c-hết cũng nên mồ yên”;

một phụ nhân áo vải lặng lẽ thả nửa xu rồi vội quay đi.

Vị thư sinh ấy cắn môi đến bật máu, không dám cãi nửa lời.

Y đập đầu ba cái, chắp tay bái tạ giọng khàn đục vì rét:

“Xin chư vị.

mỗi người nhường ta một đồng, cho kẻ làm con trọn đạo táng phụ.

Tần Cối cam khế b:

án t-hân hơn hai mươi năm, hầu hạ không dám trái lệnh.

” Gió bấc lại ào qua, cuốn theo mấy tiếng cười nhạo còn rót, để góc chợ chỉ còn bánh xe rin rít, tấm chiếu gai loang ố, và dáng một thư sinh gầy yếu quỳ lặng giữa bùn tuyết, nhục mà vẫn lễ nghèo mà vẫn cầu.

Cổ Xuyên bước đến, khoanh tay nhìn vào tấm bảng treo lủng lẳng trước mặt, trên đó ghi dòng chữ nguệch ngoạc:

“Cầu sáu mươi lượng để tang cha.

” Y nhíu mày, giọng trầm hỏi:

“Tại sao ngươi lại đòi sáu mươi lượng?

Vị thư sinh quỳ trên bùn tuyết ngẩng đầu, mắt đỏ hoe vì khóc suốt đêm, thân mình vẫn run bần bật vì rét:

“Tiểu sinh muốn làm một tang Lễ cho phụ thân chu tất.

Lúc sống người đã hi sinh nhiều, đến khi tạ thế chỉ mong có quan quách đàng hoàng, hương khói đủ lệ.

Nhà đã cháy rụi, chẳng còn chỗ dựng linh đường, bạc cũng cạn—chi đành treo bảng này.

” Ánh mắt y kiên định lạ thường.

Cổ Xuyên nhìn vào, chợt thấy một bóng mình thuở nào phảr chiếu trong ấy.

Y khẽ gật:

“Nhà ta ở ngõ Đông Hiên trong huyện.

Huynh đài đứng dậy.

Ta sẽ cùng ngươi chôn cất phụ thân.

” Thư sinh nhìn chằm chằm Cổ Xuyên:

y cũng trạc tuổi mình;

sáu mươi lượng đâu phải con số nhỏ.

Y còn chưa kịp đứng, Cổ Xuyên đã móc trong áo ra một túi bạc nhỏ, đặt gọn vào tay:

“Như thế đã tin chưa?

Thoạt tiên thư sinh kinh ngạc, kế đó dập đầu liên tiếp, nước mắt tuôn:

“Ân công!

Ân công!

” Cổ Xuyên vội đưa tay chặn lại, nửa cười nửa thở dài:

“Khom bái vừa thôi, ngã đầu váng mắt rồi ta lại vất vả chôn hai mạng mất.

Dạo này ta đưa người xuống đất nhiều lắm rồi.

” Y đỡ thư sinh đậy, tự tay chỉnh lại dây gai trên chiếc xe tay, kéo phụ theo một quãng, đưa thẳng về ngõ Đông Hiên.

Vào nhà, Cổ Xuyên nhóm lò than, đun ấm gừng, khoác cho thư sinh tấm áo bông cũ, rồi treo đèn lồng thấp nơi án thờ tạm.

“Ngươi ngồi sưởi, giữ hơi cho ấm.

Ta đi gọi phường tẩn liệm, lại vào nha môn xin văn “cho đất.

Đêm nay an táng trước khi băng đóng cứng.

” Nói rồi, Cổ Xuyên đem mộc bài sai dịch đến kho sổ, gõ hai tiếng ngắn báo việc.

Hà thư lại thấy mặt, không hỏi nhiều, đưa bút ký vào đơn xin đất mai táng bãi khô ngoài đông môn, đóng ấn đỏ.

Cổ Xuyên tiện đường ghé phường mộc mua áo quan ván mỏng, một bộ vải liệm, ít hương nén, cùng thuê bốn phu đòn.

Lúc trở về, y dừng ở quán giấy vàng mã, chỉ lấy một nắm tiền giấy, không phung phí.

Trước hiên nhà, Cổ Xuyên bày linh sàng tạm:

mảnh chiếu sạch, chén nước gừng, một đĩa muối, mấy nén hương.

Y rót ấm cho thư sinh:

“Uống đi, hoàn hồn đã.

Danh tính ngươi là gì?

“Tiểu sinh họ Tần, tên Cối.

” Cổ Xuyên khựng tay, ngẩng phắt lên, nhìn không chớp mắt vào gương mặt xanh xao trước mặt.

Khói ấm bốc mờ nơi miệng chén, y như quên thở, khẽ lầm rầm:

“Tần Cối.

Tần Cối.

cái tên này.

ta nghe ở đâu rồi nhỉ?

“Được, Tần huynh.

Việc b:

án thân treo bảng kia, tạm gỡ xuống.

Việc trước mắt:

liệm, nhập quan, chọn huyệt.

Bạc sáu mươi, ta ghi thành khế.

Ngươi trả bằng công sức cũng được.

Một điểu— không để kẻ khác “mua thân lần nữa.

” Tần Cối run giọng:

“Ân công tín nhiệm như vậy, Tần Cối khắc cốt ghi tâm.

” Chừng giờ Mùi, đội tẩn liệm tới.

Cổ Xuyên cùng họ rót nước gừng, tắm lau qua cho cố nhân, buộc hàm, thay vải liệm, nhập quan.

Hàng xóm nghe việc, có người mang sang bó rơm khô, người dúi thêm nắm định gỗ, người cho mượn đòn tre— tất cả đều lắng lặng, chẳng nói lời nào.

Trước án, Cổ Xuyên thắp hương, lạy hai lạy, bảo Tần Cối:

“Khấu bái đi.

Khóc cũng được—nhưng nhớ giữ hơi để đưa người đi nốt đoạn đường.

” Khi bóng chiểu ngả, cổ quan mỏng được khiêng ra cửa, dây trắng buộc đầu đòn.

Cổ Xuyên đi đầu, tay cầm đèn lồng;

Tần Cối áo vải trắng buộc tay, theo sau, tiếng khóc ghìm ở cổ.

Đến bãi khô ngoài đồng môn, gió bấc hắt dọc sông, mặt đất cứng như gạch.

Phu đòn dùng xà beng mở huyệt;

Cổ Xuyên rải một lớp tro khô, kê gỗ cho quan nằm ngay, TỔi gỡ đèn đặt lên mô đất.

“Được rồi,” y nói nhỏ, “gọi phụ thân lần cuối.

” Tần Cối quỳ xuống, đầu chạm bùn tuyết:

“Phụ thân ơi.

nhi tử bất hiếu, chậm chân một bước.

Nay nhờ người tốt, mới có chỗ đất khô, quan quách tạm toàn.

Trên trời nếu phụ thân nghe thấy, xin tha lỗi cho con.

” Tiếng khóc vỡ mà không ầm 1—như sợi lụa bị kéo, đứt trong lồng ngực.

Cổ Xuyên lặng đứng, tay che gió cho ngọn đèn không tắt Khi lấp nắp quan, y bảo phu đòn chôn theo nắm gừng khô, một nhúm muối, rồi lấp đất từng thoi chặt tay.

Đắp xong, Cổ Xuyên dựng một cọc tre, buộc đải vải trắng làm dấu, lấy phấn gạch viết mấy chữ đơn sơ ghi họ tên và ngày tháng.

Trên đường về, Tần Cối lặng lẽ đi cạnh, chọt dừng lại, dập đầu giữa ngõ:

“Ân công cứu một mạng người, lại cứu được một đời người.

Tần Cối xin ghi thân làm nô hai mươi năm, hầu hạ chẳng dám trái lệnh.

” Cổ Xuyên đỡ y dậy, lắc đầu:

“Đừng vội đem thân rao.

Trước trả bằng việc:

mỗi đêm đến nha môn, ghi sổ phát chẩn cho ta ngày thì theo phường mộc, học đục đẽo mà kiếm ăn.

Khế ta viết —“b-án thân!

đổi thành “khế làm công”.

Nợ bạc hằng để đó.

Ngươi còn phải học, còn phải giữ mắt đọc chữ, như lời phụ thân dặn.

” Tần Cối sững người, rồi nghẹn:

“Ân.

công.

“Đừng gọi thế mãi,” Cổ Xuyên mỉm cười mỏi mệt, “gọi Cổ huynh là được.

” Đêm ấy, trong căn nhà ngõ Đông Hiên, Cổ Xuyên treo thêm một chiếc đèn lồng ở mái hiên.

Ánh đèn vàng mỏng, ấm lên một góc tường cũ.

Trên án, y đặt khế ước đã viết sẵn:

“Khế làm công — Tần Cối khởi từ đêm mai, phụng sự tại nha môn, việc giấy bạ, ghi sổ, tiếp nhận phát chẩn;

cấm chuyển nhượng thân, cấm kẻ khác can thiệp.

” Y ấn mộc bài làm tín, đẩy bút sang cho Tần Cối ký.

Ngoài kia, gió bấc còn rít dọc thành.

Trong phòng, ấm gừng bốc hơi, tay Tần Cối vẫn run nhưng mắt đã bót đỏ.

Cổ Xuyên ngồi dựa vách, nhìn ngọn lửa liếm vành ấm, tự nhủ:

“Thêm một người, đỡ một phần gió.

Bình luận


Không có bình luận.

Cấu hình

Báo cáo

Bình luận

Đang tải...

Bạn cần đăng nhập để bình luận.

Đăng nhập