Chương 1: Ký ức về cậu bé trắng trẻo hay khóc

Tôi sinh ra vào một ngày cuối thu của thập niên 90, ở một miền quê thanh bình vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Những năm tháng đó, đất nước vừa bước qua thời bao cấp chưa lâu, luồng sinh khí đổi mới mặc dù đã len lỏi tới từng góc phố thị thành, thế nhưng ở những nơi chôn rau cắt rốn ven bờ đê cong cong, nhịp sống vẫn cứ chầm chậm, rỉ rả và đậm đặc hơi thở của khói lam chiều.

Ngôi làng tôi nằm kẹp giữa một nhánh sông nhỏ và những cánh đồng lúa trải dài tít tắp đến tận chân trời.

Đường làng thời đó vẫn là đường đất phiến, cứ đến mùa khô là bụi mù đỏ quạch, bám nghẹt lên từng kẽ lá ngõ vắng.

Hễ gặp cơn mưa rào dội xuống, con đường ấy liền hóa thành vũng lầy sền sệt, trơn trượt như bôi mỡ, hằn đầy những vết lõm bánh xe cải tiến, vết móng bò, móng trâu.

Nếp nhà tôi mái ngói rêu phong, nằm nép mình sau hàng râm bụt và những thân cau gầy guộc chọc thẳng lên nền trời.

Đó là không gian mở đầu cho ba mươi năm cuộc đời của tôi – một cuộc đời được lập trình bằng những gam màu từ nhàn nhạt tới xám lạnh, để rồi khép lại một cách thản nhiên vào một chiều gió lộng bên chiếc cầu ở thành phố biển miền Trung.

Tên tôi là Quang An.

Tên do ông nội đặt, mang ý nghĩa mong một đời bình an, rực rỡ và quang minh.

Nhà tôi vốn chẳng khá giả gì, ba mẹ quanh năm bám mặt vào đất, bám lưng vào trời, những năm khốn khó còn phải bươn chải chạy chợ, buôn bán ngược xuôi để kiếm từng đồng bạc lẻ lo cho cuộc sống.

Tôi là đứa con trai duy nhất sau hai chị gái.

Bạn biết đấy, trong cái nếp nghĩ của những người nông dân xưa, đẻ được một mụn con trai nối dõi tông đường là một chuyện hệ trọng và vỡ òa đến nhường nào.

Thế nhưng, trái với sự kỳ vọng về một chú bé cứng cáp, quậy phá, đen nhẻm, tôi lại hiện diện trên cõi đời này với một hình hài và tính cách hoàn toàn.

trật nhịp.

***

Trong ký ức của những người trong họ, tuổi thơ của tôi được gói gọn trong hai chữ:

"Xinh trai"

"Hay khóc"

Xinh trai, là bởi tôi sở hữu một làn da trắng bóc chẳng hiểu di truyền từ ai.

Trắng đến mức phớt hồng, những mạch máu xanh liti chạy dọc theo thái dương, mỏng manh như sương sớm.

Đám trẻ con trong xóm, đứa nào cũng khét nắng, tóc cháy đỏ quạch, đầu trần chân đất bêu nắng từ sáng tới chiều, da dẻ đen bóng như những con culi ngoan cường.

Còn tôi, dẫu có để đầu trần phơi trưa vài tiếng cùng tụi nó, làn da cũng chỉ ửng đỏ lên một chút rồi lại nhả nắng về trắng trẻo như cũ.

Đôi mắt tôi to tròn, đen láy, hàng lông mi cong rợp chớp chớp mỗi khi bị người lớn trêu đùa.

“Nhìn thằng cu An mà xem, mặt mũi thanh tú, mỏ đỏ choét, da dẻ như cùi dừa.

Giá mà là con gái thì lớn lên khối thanh niên trong làng xin chết mất thôi!

” – Mấy bà dì họ, mỗi lần đến nhà chơi, vừa véo má tôi vừa tấm tắc chép miệng thương tiếc.

Ngay cả hai bà chị ruột cũng thường xuyên nhào nặn khuôn mặt tôi, cột tóc chỏm lên đỉnh đầu tôi rồi bắt tôi đứng ngắm gương, cười nắc nẻ.

Tuy nhiên, ngoại hình ấy đi liền với một sự nhút nhát đến cùng cực.

Tôi nhút nhát đến rồ dại, sợ hãi đủ mọi thứ trên đời.

Sợ bóng tối, sợ con chó vện của nhà hàng xóm, sợ tiếng sấm, sợ những giọng nói lớn tiếng, và sợ cả những người lạ mặt đến nhà nhìn chằm chằm vào tôi.

Cơ chế phòng vệ duy nhất của một đứa trẻ yếu đuối khi ấy là gì?

Là nước mắt.

Tôi khóc rất giỏi.

Khóc dai dẳng, khóc không cần phải lấy cớ.

Chỉ cần một con kiến bò ngang chân làm buồn, tôi khóc.

Ai đó vô tình giẫm lên cái ô tô đồ chơi bằng nhựa mỏng dính của tôi, tôi khóc.

Mẹ đi chợ về trễ một chút, ngồi trên bậu cửa trông ra ngõ, tôi khóc.

Đặc biệt, bất kỳ một người lạ nào mà sờ vào người tôi, bế thốc tôi lên, chưa kịp để họ cưng nựng, tôi đã òa lên nức nở tung trời.

Nước mắt của tôi trở thành một thứ đặc sản của nhà tôi ngày đó.

Ba tôi vốn là người đàn ông cục mịch, thẳng tính và nghiêm khắc.

Nhìn cậu con trai duy nhất – niềm tự hào hão huyền của ông – lại ủy mị ướt át dường ấy, thi thoảng ông tức đến tím mặt.

Đã có những lần ông quát lớn, quất roi mây xuống bậc thềm để dọa tôi nín bặt, nhưng tiếng quát tháo của ông lại như châm thêm dầu vào ngọn lửa sợ hãi, làm tôi càng gào to hơn, nước mắt nước mũi tèm lem, chạy vội rúc vào gấu áo mẹ hoặc nấp sau lưng hai bà chị, hức hức từng cơn.

Không chỉ có vậy, giọng nói của tôi cũng là một đặc ân.

kỳ khôi.

Nó mềm mại, thỏ thẻ và the thé nhẹn nhẹn hệt như giọng của một cô bé gái đỏng đảnh.

Mỗi lúc tôi nói chuyện, ai không nhìn thấy mặt chắc chắn sẽ đinh ninh đó là một bé gái đang bi bô cãi lý.

Cái tính cách mềm yếu, vẻ ngoài trong trẻo đó khiến tôi nằm ngoài mọi vòng tròn trò chơi bạo lực của tụi con trai trong làng:

không đánh khăng, không vật lộn bùn lầy, không chơi ném pháo đất hay cướp cờ mà phải lao vào xô đẩy nhau sứt đầu mẻ trán.

Tôi chỉ thích loanh quanh ở góc sân mảnh vườn, nhổ cỏ dại, ngồi ngắm kiến hành quân hay lúi húi chơi mấy viên bi chai một mình.

***

Đến cái tuổi vào mẫu giáo và lên học lớp một ở trường làng, sự ẻo lả ấy của tôi vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt.

Trái lại, nó dường như định hình nên một tính cách thu mình, trốn tránh đám đông.

Làng tôi ngày ấy nghèo, mái trường tiểu học trong làng chỉ gồm có hai dãy nhà cấp bốn lợp ngói xám xịt, xà gồ mối mọt ăn rỗng, cửa sổ gỗ cái mất cái còn, mỗi lần gió bấc thốc qua là kêu kẽo kẹt như người già rên rỉ.

Sân trường là một bãi đất nện rộng rãi phủ đầy những cây bàng cổ thụ, tới mùa thay lá thì đỏ rực cả một góc trời, rụng trải thảm che kín mặt đất.

Học sinh trong làng đến từ khắp các xóm, đa số là những đứa trẻ mũi dãi thò lò, chân tay đầy những lấm lem bùn đất và những vết sẹo do trèo ngoẻo, té ngã.

Tôi đi học, nằm ở một thái cực khác hẳn.

Có lẽ vì ức chế với dáng vẻ như con dở của tôi, mẹ tôi thay vì mặc cho tôi những bộ quần áo rẻ tiền qua quýt, bà lại rất chăm chút ủi vuốt phẳng phiu những chiếc áo cộc tay sọc caro, những chiếc quần đùi sạch sẽ không tì vết.

Sống giữa bầy quỷ sứ trẻ con thôn quê, tôi như một hạt cơm trắng tinh rơi tõm vào đống tro bếp đỏ lửa.

Bọn con trai ngứa mắt, hay kiếm cớ đẩy tôi lùi lại, giật tóc hoặc trêu chọc tôi bằng những biệt danh mỉa mai như

"An Gái"

"An Bê đê"

"An Công Chúa"

Mỗi khi bị bắt nạt, phản ứng quen thuộc của tôi lại lại đứng chôn chân tại chỗ, mắt đỏ hoe, đôi môi chúm chím mím chặt ngăn những tiếng sụt sùi, rồi những giọt nước mắt to như hạt chanh cứ thế thi nhau rơi lã chã xuống ngực áo.

Tôi không đánh trả, không la lớn, không đi mách thầy cô.

Sự nhút nhát tạo nên trong tôi một bức tường vô hình:

sợ rắc rối, sợ phiền phức, sợ phải tương tác với sự ồn ào và tàn nhẫn của đám trẻ.

Dần dà, bọn nó cũng chán cái trò trêu chọc một cái bao tải khóc lóc vô tri, và buông tha cho tôi một khoảng trời bình yên chật hẹp.

Bù lại sự thui thủi, yếu ớt và dễ tổn thương ấy, tôi lại được trời phú cho một bộ não tiếp thu khá tốt.

Tôi không cần phải cắm đầu cắm cổ học đêm học ngày.

Đối với tôi việc chú tâm vào lời thầy cô giảng bài như một cách để tôi cách ly với mọi thứ lộn xộn đang diễn ra dưới lớp học.

Thế nên, từ lớp một cho đến lên các lớp lớn hơn, điểm số của tôi chưa bao giờ tụt khỏi sự xuất sắc.

Tôi không phải là hạt giống quá thiên tài, xuất chúng như kiểu thần đồng giải rẹt rẹt những bài toán hình sao phức tạp, nhưng trong cái mặt bằng chung của làng, tôi luôn luôn vững chãi ở top đầu của lớp.

Chữ viết của tôi nắn nót, mềm mại sạch sẽ đến mức cô giáo thường dùng vở của tôi làm mẫu cho cả lớp.

Đọc bài, giọng tôi dẫu the thé mỏng manh nhưng lại truyền cảm và không hề bị ngọng

"l"

hay

"n"

như đa phần bọn bạn.

Các thầy cô rất cưng tôi.

Họ coi tôi là một học trò ngoan ngoãn hoàn hảo, một viên ngọc nhỏ chẳng gợn bùn dẫu ở vùng quê chiêm trũng.

Chính nhờ việc được học giỏi, tôi có được sự nể nang ngầm từ bọn ruồi bâu học kém.

Trong giờ kiểm tra toán hay chính tả, đôi lúc chúng đe dọa hoặc khẩn cầu tôi cho ngó bài, tôi cũng chẳng hẹp hòi mà che lấy xoa để, tôi cứ lẳng lặng để vở hớ hênh cho chúng muốn chép gì thì chép.

Cái sự

"hiền như cục bột"

đó đã cứu tôi khỏi vô khối rắc rối trong thế giới hoang dã nửa mù chữ nửa chợ búa của đám nhóc nhỏ ngày ấy.

Nhưng cũng chính vào thời điểm đó, giữa muôn vàn những giọt nước mắt mềm nhũn và trong veo, một mầm mống lạnh lẽo đã âm thầm cắm rễ vào tầng sâu nhất của tâm thức tôi.

Đâu đó sau đôi mắt ướt át, tôi bắt đầu nhận ra những tiếng khóc của mình thật ra chẳng hề giải quyết được bất cứ việc gì, ngoài việc đổi lấy sự thương hại phù phiếm của mẹ hoặc sự khinh mạn của ba.

Tôi khóc, nhưng tâm hồn tôi ở bên trong bắt đầu học cách rèn một lớp chai sạn mỏng, đứng cách ly ra xa khỏi nỗi đau thân xác và nỗi uất ức.

Tôi đứng nhìn tôi khóc, như một linh hồn thoát xác đang quan sát đoạn mã kịch vô tri của một thằng nhóc thảm hại con thịt ruột của mình.

Mẹ tôi không biết, ba tôi không hay, những giáo viên coi tôi như đóa lưu ly yếu ớt cũng không hề hay biết rằng đằng sau vỏ bọc ngoan ngoãn kia là một đứa trẻ bắt đầu quan sát mọi người xung quanh bằng một ánh mắt thờ ơ, không phán xét, cũng không buồn dính líu.

Đó là những năm tháng đầu đời.

Ký ức vẫn văng vẳng tiếng sột soạt của rặng tre già nghiêng mình quất vào nhau mỗi mùa bão về.

Ở dưới gốc râm mát nức mùi hoa cau ấy, có thằng bé Quang An ngồi ôm gối, trong đầu nó không có lý tưởng, không có nhiệt huyết, vắng bóng luôn cả sự tinh nghịch hồn nhiên.

Tất cả những gì nó muốn, chỉ là sự yên lành tuyệt đối, dẫu có phải đánh đổi bằng nước mắt để người ta ngừng xâm phạm không gian riêng tư của nó đi chăng nữa.

Bình luận


Không có bình luận.

Cấu hình

Báo cáo

Bình luận

Đang tải...

Bạn cần đăng nhập để bình luận.

Đăng nhập